Thơ Giang Nampgdgialoc.edu.vn - Chia sẻ. Kết nối. Truyền cảm hứng.Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trườngYêu quê hương qua từng trang sách nhỏ"Ai bảo chăn trâu là khổ""Tôi mơ màng nghe chim hót trên caoCó những ngày trốn họcĐuổi bướm cạnh bờ aoMẹ bắt được...Chưa đánh roi nào tôi đã khóc!Có cô bé nhà bênNhìn tôi cười khúc khích...Cách mạng bùng lênRồi kháng chiến trường kỳQuê tôi đầy bóng giặcTừ biệt mẹ, tôi điCô bé nhà bên có ai ngờ!Cũng vào du kíchHôm gặp tôi vẫn cười khúc khíchMắt đen tròn thương thương quá đi thôi!Giữa cuộc hành quân không nói được một lờiĐơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lạiMưa đầy trời mà lòng tôi ấm mãi...Hòa bình tôi trở về đâyVới mái trường xưa, bãi mía, luống càyTôi lại gặp emThẹn thùng nép sau cánh cửaVẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏChuyện chồng con khó nói lắm anh ơi!Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùiEm vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...Rồi hôm nay nhận được tin emKhông tin được dù đó là sự thậtGiặc bắn em rồi, quăng mất xácChỉ vì em là du kích, em ơi!Đau xé lòng anh, chết nửa con người!Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướmCó những ngày trốn học bị đòn roiNay yêu quê hương vì trong từng nắm đấtCó một phần xương thịt của em tôi.

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Quê Hương của Giang Nam


Bạn đang xem: Xưa yêu quê hương vì có hoa có bướm

Bài thơ Quê hương được nhà thơ Giang Nam viết vào năm 1960 tại căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hoà đóng dưới chân núi Hòn Dù phía tây thành phố Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) khi ông bàng hoàng nghe tin vợ ông - bà Phạm Thị Triều, và con gái ông bị địch giết hại trong nhà tù Phú Lợi (Bình Dương).Trong niềm đau đớn tột cùng, ngay trong đêm nghe tin dữ, ông đã viết nên bài thơ “Quê hương” như vẽ nên một sự thật đau xót:Giặc bắn em rồi quăng mất xácChỉ vì em là du kích em ơiĐau xé lòng anh chết nửa con người…Có thể nói, đây là bài thơ hay nhất trong đời thơ của Giang Nam. Theo Hoài Thanh kể lại, năm 1961, khi xét giải thưởng thơ Tạp chí Văn nghệ, có ý kiến đề nghị trao giải nhất cho bài thơ Quê hương nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong bối cảnh lúc đó bài thơ có thể ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu nên đề nghị chỉ trao giải ba, cuối cùng giải pháp dung hoà được nhất trí: bài thơ được tặng giải nhì giải thưởng thơ năm 1960-1961 của Tạp chí Văn nghệ. Tưởng rằng vợ con đã bị địch giết hại, nhưng thật may đây là nhầm lẫn. Năm 1962, sau 3 năm bị bắt, vợ và con gái được thả về do địch không tìm ra căn cứ để kết tội. Gia đình nhỏ được đoàn tụ trong nước mắt.Nhưng cuộc đoàn tụ này không phải là sau cùng. Do công tác nên Giang Nam và vợ con vừa gặp mặt lại phải một lần nữa chia tay. Năm 1968, "cô du kích" trong bài thơ lại bị địch bắt một lần nữa. Mãi đến năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, bà được thả ra, gia đình Giang Nam mới đoàn tụ lần nữa tại Củ Chi. 
*

Xem thêm:

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976, Giang Nam vào làm việc tại TP Hồ Chí Minh. Đến năm 1978, ông lại ra Hà Nội làm Thường trực Hội Nhà văn Việt Nam nên ông bà lại tiếp tục xa nhau. Mãi đến năm 1989 sau khi tách tỉnh Phú Khánh thành 2 tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, Tỉnh ủy Khánh Hòa xin ông về làm Phó chủ tịch UBND tỉnh phụ trách văn xã thì gia đình nhỏ mới thực sự đoàn tụ.
Đến tháng 4-2013, cuối cùng thì cô "du kích" trong bài thơ Quê hương đã thật sự ra đi ở tuổi 82.Dù bài thơ được sáng tác bởi sự nhầm lẫn về thông tin nhưng đã để lại cho những thế hệ yêu văn học Việt một bài thơ cảm động cũng như một mối tình son sắt đồng hành cùng sức sống của bài thơ suốt hơn 50 năm qua. Tham khảo và trích dẫn• Giang Nam, Tháng Tám ngày mai, NXB Văn học, 1962Website cùng hệ thốngAtaHome.vn Kênh thông tin bất động sản - Nền tảng mua bán, cho thuê nhà đất #1 Bình Dương.